Thứ Sáu, 27/05/2016, 16:36 (GMT+7)
.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Trước đây, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các BLHS này đều không quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân, không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm và hình phạt, với quan điểm cho rằng chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và bị áp dụng hình phạt phải theo nguyên tác lỗi và phân hóa TNHS...

Tuy nhiên, qua tổng kết thi hành BLHS năm 1999, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống, xử lý tội phạm trên một số lĩnh vực, nhất là trong các lĩnh vực như: Kinh tế, thương mại, môi trường, sở hữu trí tuệ… đòi hỏi phải nghiên cứu và đặt ra vấn đề quy định TNHS đối với pháp nhân.

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng quy định TNHS đối với pháp nhân để xử lý những trường hợp pháp nhân phạm tội. Ngoài ra, yêu cầu hội nhập, hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm đòi hỏi phải phòng, chống tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia.

Xuất phát từ những yêu cầu trên, BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1-7-2016 đã quy định TNHS, tội phạm và hình phạt đối với pháp nhân. Theo đó, ngoài cá nhân phạm tội bị truy cứu THNS, đối với pháp nhân thương mại nào phạm tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì phải chịu TNHS.  
Điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại:

Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện sau: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định.

Việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân. Pháp nhân thương mại phạm tội một trong các tội sau thì bị truy cứu TNHS:

Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại gồm: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả);

Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi) và Điều 196 (tội đầu cơ).

Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm gồm: Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán);

Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm) và Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động).

Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gồm: Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản) và Điều 234 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã).

Các tội phạm về môi trường gồm: Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông);

Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản); Điều 243 (tội hủy hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên) và Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).

Nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau: Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Về hình phạt đối với pháp nhân phạm tội: Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị pháp nhân thương mại phạm tội, mà còn giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa pháp nhân phạm tội mới; giáo dục pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm: Hình phạt chính gồm: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung gồm: Cấm kinh doanh; cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Các hình phạt cụ thể đối với pháp nhân phạm tội các tội nêu trên được quy định trong từng tội phạm tại Phần các tội phạm cụ thể. Chẳng hạn như:

Điều 188 BLHS quy định về tội buôn lậu: Pháp nhân phạm tội buôn lậu thì tùy theo loại hàng hóa, giá trị hàng hóa phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 15 tỷ đồng; bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm; bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 năm đến 3 năm.

Điều 200 quy định về tội trốn thuế: Pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, số tiền trốn thuế có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 10 tỷ đồng; bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm; bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 năm đến 3 năm.

Điều 235 quy định tội gây ô nhiễm môi trường: Pháp nhân thương mại phạm tội này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả gây ra có thể bị phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng; bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 1 năm đến 3 năm.

Trường hợp không bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, pháp nhân có thể bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội: Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội như: Các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 47 và Điều 48 của BLHS năm 2015; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra (như biện pháp buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường…).

ĐẶNG PHỤNG 

(Sở Tư pháp)

.
.
.