.

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam tăng hạng tốt nhất toàn cầu, nhưng....

Cập nhật: 22:17, 11/11/2019 (GMT+7)
Năm 2019, Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đánh giá là nền kinh tế có mức độ cải thiện điểm số và tăng hạng tốt nhất toàn cầu trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh (NLCT) toàn cầu.
 
Theo bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và NLCT, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), NLCT toàn cầu của Việt Nam cải thiện vượt trội, song vẫn còn nhiều thách thức, nhất là vấn đề về thể chế, kỹ năng, môi trường kinh doanh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
 
Năng lực cạnh tranh của Việt Nam đứng thứ 6 ASEAN
 
a
 Bà Nguyễn Minh Thảo.
Phóng viên (PV): Bà có thể khái quát những điểm đáng chú ý trong bảng xếp hạng NLCT toàn cầu năm 2019?
 
Bà Nguyễn Minh Thảo: Năm 2019, WEF xếp hạng 141 nền kinh tế (chiếm 99% GDP thế giới) qua 103 chỉ số được nhóm thành 12 trụ cột. Những trụ cột bao quát các yếu tố kinh tế-xã hội, như: Thể chế, cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế, kỹ năng, thị trường sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, mức độ năng động trong kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo. Năm 2019, Việt Nam được WEF đánh giá là nền kinh tế có mức độ cải thiện điểm số và tăng hạng tốt nhất toàn cầu, sau khi tăng 10 bậc (từ vị trí 77 lên vị trí 67) và 3,5 điểm (từ 58 điểm lên 61,5 điểm) cao hơn điểm trung bình toàn cầu (60,7 điểm).  
 
Kết quả này là do 8/12 trụ cột tăng điểm và tăng nhiều bậc. Điển hình như trụ cột ứng dụng công nghệ thông tin tăng điểm và tăng hạng nhiều nhất (tăng 25,7 điểm, từ 43,3 điểm lên 69,0 điểm và tăng 54 bậc, từ vị trí 95 lên vị trí 41). Tiếp đến là trụ cột thị trường sản phẩm tăng 23 bậc (từ vị trí 102 lên thứ 79); trụ cột mức độ năng động trong kinh doanh tăng 12 bậc (từ vị trí 101 lên vị trí 89). Đáng chú ý, trụ cột thể chế tăng 0,3 điểm và 5 bậc (từ vị trí 94 lên vị trí 89). Trong đó, đáng kể nhất là nhóm các chỉ số thành phần thể hiện mức độ định hướng tương lai của Chính phủ tăng mạnh, ở vị trí 40 năm 2019 so với thứ hạng 75 năm 2018.
 
a
Hoạt động xuất nhập khẩu tại cảng Cát Lái, TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: MINH ĐỨC
PV: Trong khu vực ASEAN thì NLCT của Việt Nam đang ở đâu, thưa bà?
 
Bà Nguyễn Minh Thảo: Trong Bảng xếp hạng NLCT toàn cầu năm 2019, ngoại trừ Singapore và Việt Nam tăng điểm, tăng bậc, các nước còn lại trong khu vực ASEAN đều giảm điểm hoặc giảm bậc. Trong đó, Malaysia, Thái Lan tăng điểm, nhưng giảm bậc (mỗi nước giảm 2 bậc); Indonesia và Philippines giảm điểm và giảm bậc (Indonesia giảm 5 bậc, Philippines giảm 8 bậc); Lào và Campuchia vẫn ở cuối bảng xếp hạng. Tuy nhiên, dù có sự cải thiện nhanh nhưng NLCT quốc gia của Việt Nam vẫn chỉ đứng thứ 6 trong ASEAN.
 
PV: Thứ hạng NLCT của Việt Nam được nâng lên mạnh mẽ, vậy theo bà đâu là động lực tạo nên sự thay đổi này?
 
Bà Nguyễn Minh Thảo: Kết quả cải thiện NLCT của Việt Nam phần nào phản ánh nỗ lực liên tục trong những năm gần đây của Chính phủ về cải cách môi trường kinh doanh, về thúc đẩy đổi mới sáng tạo để thích ứng và nhảy vọt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập sâu rộng hơn. Những nỗ lực cải cách nổi bật như cắt giảm, đơn giản hóa ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; thay đổi phương thức quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành (áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, chuyển mạnh sang hậu kiểm…); chú trọng cải thiện các quy định, thủ tục nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi; đẩy mạnh Chính phủ điện tử và giao dịch không dùng tiền mặt; cải cách thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; giảm chi phí doanh nghiệp; từng bước tạo lập thể chế chính sách vượt trội nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo… đã đóng góp có ý nghĩa vào kết quả NLCT 4.0 năm 2019 của nước ta.
 
Cần nỗ lực cải thiện hơn nữa từ Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp
 
PV: Bên cạnh những điểm sáng, theo bà, đâu là những điểm còn hạn chế trong NLCT của Việt Nam? 
 
Bà Nguyễn Minh Thảo: Bảng xếp hạng NLCT toàn cầu năm 2019 cũng cho thấy 3 trụ cột tụt hạng và 1 trụ cột giữ vị trí không đổi. Cụ thể là: Trụ  cột ổn định kinh tế vĩ mô không thay đổi điểm số và thứ hạng (giữ ở mức 75 điểm và thứ hạng 64). Trụ cột hệ thống tài chính tăng 1,6 điểm, nhưng giảm 1 bậc; trụ cột cơ sở hạ tầng tăng 0,5 điểm, nhưng giảm 2 bậc; trụ cột y tế giảm điểm nhẹ (từ 81 điểm xuống 80,5 điểm) và tụt 3 hạng (từ vị trí 68 xuống vị trí 71).
 
Cùng với đó, mặc dù Việt Nam có những cải thiện đáng kể về điểm số và thứ hạng của hầu hết các trụ cột, song phải thẳng thắn thừa nhận có đến 8/12 chỉ số trụ cột hiện ở thứ hạng thấp hoặc rất thấp. Các trụ cột có thứ hạng dưới thứ hạng chung về NLCT (thứ 67) gồm: Thể chế (89); cơ sở hạ tầng (77); y tế (71); kỹ năng (93); thị trường sản phẩm (79); thị trường lao động (83); mức độ năng động trong kinh doanh (89); năng lực đổi mới sáng tạo (76).
 
Đặc biệt, ở cấp độ các chỉ số thành phần, một số chỉ số có sự suy giảm mạnh như: Mức độ minh bạch về ngân sách; dấu hiệu tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, hiện đứng ở gần cuối bảng. Cùng với đó, hiệu quả giải quyết phá sản doanh nghiệp, nguồn vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục là rào cản lớn đối với hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, khi chỉ số thành phần này đang đứng nhóm cuối bảng xếp hạng.
 
PV: Theo bà, Việt Nam cần làm gì để tiếp tục cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia?
 
Bà Nguyễn Minh Thảo: Từ những đánh giá, phân tích như trên, có thể thấy phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; nhất là vấn đề về thể chế, kỹ năng, môi trường kinh doanh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Bởi vậy, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực cải cách mạnh mẽ, thực chất và toàn diện hơn nữa để nâng cao NLCT của nền kinh tế một cách bền vững, mang lại sự thịnh vượng cho người dân. Điều này đòi hỏi không chỉ nỗ lực từ Chính phủ mà cần sự chung tay của các bên liên quan, nhất là cộng đồng doanh nghiệp và người dân.
 
PV: Trân trọng cảm ơn bà!
 
(Theo qdnd.vn)
.
.
.